BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

——————-@ Hợp tác để tồn tại @—————

QUẢN LÝ KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN RỪNG NGẬP MẶN CẦN GIỜ THOẢ MÃN 12 NGUYÊN TẮC TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI THEO CÔNG ƯỚC ĐA DẠNG SINH HỌC

QUẢN LÝ KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN RỪNG NGẬP MẶN CẦN GIỜ THOẢ MÃN 12 NGUYÊN TẮC TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI THEO CÔNG ƯỚC ĐA DẠNG SINH HỌC

LÊ ĐỨC TUẤN (*)

I. TỔNG QUAN VỀ KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN RỪNG NGẬP MẶN CẦN GIỜ

Khu dự trữ sinh quyển rừng mặn Cần Giờ được hình thành ở hạ lưu sông Đồng Nai – Sài Gòn nằm ở cửa ngõ Đông Nam Thành phố Hồ Chí Minh:

- Vĩ độ Bắc 10022’ – 10040’

- Kinh độ Đông 106046’ – 107001’.

Phía Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, phía Nam giáp biển Đông, phía Tây giáp tỉnh Tiền Giang và Long An, phía Đông giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Tổng diện tích Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ là 75.740 ha, trong đó: vùng lõi 4.721 ha, vùng đệm 41.139 ha, và vùng chuyển tiếp 29.880 ha.

Trước khi rừng ngập mặn Cần giờ là một quần thể thực vật đa dạng sinh học. Nhưng trong chiến tranh, bom đạn và các loại chất độc hoá học đã huỷ hoại gần như hoàn toàn khu rừng này. Đến 1978, Thành uỷ và UBND Thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạo ngành Lâm Nghiệp, UBND và nhân dân huyện Cần Giờ phục hồi lại hệ sinh thái rừng ngập mặn đa dạng độc đáo này. Hiện nay, rừng ngập mặn Cần Giờ được giao khoán cho nhân dân và các đơn vị quản lý bảo vệ.

Đây là một khu rừng theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài được khôi phục, chăm sóc, bảo vệ và quản lý thuộc vào loại tốt nhất ở Việt Nam và thế giới. Ngày 21/ 01/ 2000, khu rừng này đã được MAB/ UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam nằm trong mạng lưới 368 Khu dự trữ sinh quyển của thế giới. Đây là địa điểm lý tưởng phục vụ cho nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái, nghỉ ngơi của nhân dân thành phố và khách đến thành phố Hồ Chí Minh.

Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ có trên 150 loài thực vật, các loài chủ yếu như bần trắng, mấm trắng, các quần hợp đước đôi – bần trắng cùng xu ổi, trang, đưng v.v… và các loại nước lợ như bần chua, các quần hợp mái dầm – ô rô, dừa lá, ráng, v.v… Thảm cỏ biển với các loài ưu thế Halophyla sp., Halodule sp., và Thalassia sp.; đất canh tác nông nghiệp với lúa, khoai mỡ, các loại đậu, dừa v.v…; các vường cây ăn trái.

Thảm thực vật này là môi trường sống cho nhiều loài động vật; theo thống kê năm 1999 như sau:

- Khu hệ động vật thuỷ sinh không xương sống có trên 700 loài thuộc 44 họ, 19 bộ, 6 lớp, năm ngành.

- Khu hệ cá có trên 137 loài thuộc 39 họ và 13 bộ.

- Khu hệ động vật có xương sống trên cạn có 9 loài lưỡng thê, 31 loài bò sát, 4 loài hữu nhũ. Trong đó có 11 loài bò sát có tên trong sách đỏ Việt Nam như: tắc kè (gekko gekko), kỳ đà nước (varanus salvator), trăn đất (python molurus), trăn gấm (python reticulatus), rắn cạp nong (bungarus fasciatus), rắn hổ mang (naja naja), rắn hổ chúa (ophiophagus hannah), vích (chelonia mydas), cá sấu hoa cà (crocodylus porosus)…

- Khu hệ chim có khoảng 130 loài thuộc 47 họ, 17 bộ. Trong đó có 51 loài chim nước và 79 loài không phải chim nước sống trong nhiều sinh cảnh khác nhau.

II. NGUYÊN TẮC TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI THEO CÔNG ƯỚC ĐA DẠNG SINH HỌC

2.1.Nguyên tắc 1: Các mục tiêu quản lý tài nguyên đất đai, nước và sự sống là sự lựa chọn mang tính xã hội.

Các lĩnh vực xã hội khác nhau nhìn các hệ sinh thái dưới dạng các nhu cầu kinh tế, văn hoá và xã hội của chính họ. Các cư dân bản địa và các sộng đồng địa phương khác đang sinh sống trên đất đai là các thành viên quan trọng và quyền cũng như lợi ích của họ phải được công nhận. Cả hai sự đa dạng sinh học và đa dạng văn hoá là các thành phần trung tâm của cách tiếp cận hệ sinh thái, và việc quản lý phải tính đến điều này. Các lựa chọn mang tính xã hội phải được biểu lộ càng rõ ràng càng tốt. Các hệ sinh thái phải được quản lý vì các giá trị bản chất của chúng và vì lợi ích hữu hình hoặc vô hình của chúng đối với con người, một cách hợp lý và công bằng.

2.2.Nguyên tắc 2: Quản lý phải được phân quyền đến cấp thích hợp thấp nhất.

Các hệ thống phân quyền có thể dẫn đến hiệu quả to lớn hơn, ấn tượng sâu sắc và công bằng. Việc quản lý liên quan đến tất cả các thành viên quản lý bằng các lợi ích công cộng rộng rãi hơn. Sự quản lý càng chặt chẽ hơn đối với hệ sinh thái, khi trách nhiệm, quyền sở hữu, trách nhiệm giải trình, sự tham gia, và sử dụng kiến thức địa phương càng lớn.

2.3. Nguyên tắc 3: Các nhà quản lý hệ sinh thái phải xem xét các hiệu quả (thực tế hoặc tiềm ẩn) của các hoạt động của họ đối với hệ sinh thái tiếp cận và các hệ sinh thái khác

Việc quản lý can thiệp đến các hệ sinh thái thường có các ảnh hưởng không biết hoặc không tiên đoán trước được đến các hệ sinh thái khác; vì thế, các tác động nếu có thể cần có sự xem xét và phân tích cẩn thận. Điều này có thể đòi hỏi các phương thức và các sắp xếp mới về tổ chức đối với cơ quan có liên quan đến việc ra quyết định để thực hiện, nếu cần thiết, có các thoả hiệp thích đáng.

2.4.Nguyên tắc 4: Công nhận các lợI ích tiềm năng từ sự quản lý, thường có một nhu cầu để hiểu biết và quản lý hệ sinh thái trong phạm vi kinh tế. Bất cứ chương trình quản lý hệ sinh thái nào như thế phảI: (a) Giảm bớt các bóp méo do thị trường có ảnh hưởng bất lợI đến sự đa dạng sinh học. (b) Nhắm đến các động cơ để đẩy mạnh việc bảo tồn đa dạng sinh học và sử dụng bền vững. (c) Chủ quan hoá các chi phí và các lợI ích trong hệ sinh thái đã quy định vào phạm vi khả thi.

Sự đe doạ lớn nhất đến sự đa dạng sinh học nằm trong sự phát triển thay thế nó bởi các hệ thống chuyển đổi mục đích sử dụng đất đai. Điều này thường xuất hiện thông qua các xuyên tạc của thị trường, do đánh giá thấp các hệ thống tự nhiên và dân số và cung cấp các khuyến khích sai lầm và sự trợ cấp thiên vị cho việc chuyển đổi đất đai sang các hệ thống kém đa dạng hơn. Thông thường những người được lợi từ việc chuyển đổi không phải trả các chi phí liên đới với sự bảo tồn và tương tự những người tạo ra chi phí môi trường (gây ô nhiễm môi trường) lại thoát khỏi trách nhiệm. Cần có sự sắp xếp lại các khuyến khích cho phép những người kiểm soát tài nguyên hữu hiệu sẽ có lợi ích và những người gây ô nhiễm môi trường phải trả các chi phí do họ gây ra.

2.5. Nguyên tắc 5: Việc bảo tồn cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái, nhằm mục đích duy trì các dịch vụ của hệ sinh thái, phải là mục tiêu ưu tiên của phương thức tiếp cận hệ sinh thái

Chức năng và khả năng mau phục hồi của hệ sinh thái tuỳ thuộc vào mối quan hệ về động lực bên trong nội bộ một loài, giữa các loài và giữa loài với môi trường sinh học của chúng, cũng như các tương tác về vật lý và hoá học bên trong môi trường. Việc bảo tồn và, thích hợp, sự khôi phục của các lực tương tác và các quá trình sẽ đáng kể nhiều hơn khi duy trì sự đa dạng sinh học dài hạn so với chỉ đơn giản bảo vệ các loài.

2.6. Nguyên tắc 6: Các hệ sinh thái phải được quản lý trong giới hạn về chức năng của chúng.

Trong việc xem xét các khả năng có thể xảy ra hoặc làm thuận lợi để đạt được các mục tiêu quản lý, phải chú ý đến các điều kiện môi trường làm giới hạn năng suất tự nhiên, cấu trúc, chức năng và sự đa dạng của hệ sinh thái. Các giới hạn đối với chức năng của hệ sinh thái có thể bị mắc phải theo các mức độ khác nhau tạm thời không đoán trước được hoặc các điều kiện duy trì nhân tạo và do vậy việc quản lý phải thận trọng đúng mức.

2.7. Nguyên tắc 7: Việc tiếp cận hệ sinh thái phải được thực hiện ở các quy mô thích hợp về mặt không gian và thời gian.

Tiếp cận phải vạch rõ ranh giới về quy mô không gian và thời gian thích hợp với các mục tiêu quản lý. Ranh giới cho việc quản lý sẽ được xác định mang tính hoạt động bởi các người sử dụng, các nhà quản lý, các nhà khoa học, cư dân bản địa và cư dân địa phương. Sự kết nối giữa các khu vực phải được xúc tiến ở những nơi cần thiết. Việc tiếp cận hệ sinh thái được dựa trên tự nhiên có thứ bậc của đa dạng sinh học được đặc trưng bởi sự tương tác và sự hợp thành một hệ thống thống nhất về các gen, các loài và các hệ sinh thái.

2.8. Nguyên tắc 8: Công nhận sự thay đổi các quy mô theo thời gian và các kết quả diễn ra từ từ được đặc trưng bởi các quá trình sinh thái, các mục tiêu đối với việc quản lý hệ sinh thái phải được thiết lập mang tính dài hạn.

Các quá trình diễn thế của hệ sinh thái được đặc trưng bởi sự thay đổi các quy mô theo thời gian và các kết quả diễn ra từ từ chậm chạp. Điều này vốn đã mâu thuẫn với xu hướng của con người là thích các thu lợi ngắn hạn và các lợi ích ngay tức thì hơn là chờ lợi ích trong tương lai.

2.9. Nguyên tắc 9: Việc quản lý phải công nhân sự thay đổi là điều không thể tránh khỏi.

Sự thay đổi của các hệ sinh thái bao gồm sự thay đổi thành phần các loài và sự phong phú quần thể. Vì lý do đó, việc quản lý phải thích nghi với các biến đổi này. Ngoài các động lực vốn có của chúng về sự thay đổi, các hệ sinh thái bị bao vây bởi một phức hợp của các điều không chắc chắn và các “điều bất ngờ” trong các lĩnh vực liên quan đến con người, sinh học và môi trường. Các cách thức quản lý hiện hành mang tính nhiễu loạn truyền thống có thể quan trọng đối với cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái và có thể cần được duy trì hoặc phục hồi. Việc tiếp cận hệ sinh thái phải được tận dụng vào quản lý một cách thích ứng để lường trước và phục vụ cho các sự kiện và các thay đổi như thế và phải được cẩn trọng trong việc ra bất kỳ quyết định nào có thể giải quyết trước các lựa chọn, tuy nhiên, cùng lúc xem xét các hành động dung hoà để đối phó với các thay đổi dài hạn như thay đổi về thời tiết chẳng hạn.

2.10. Nguyên tắc 10: Tiếp cận hệ sinh thái phải tìm kiếm sự cân bằng thích hợp giữa và sự hợp thành một hệ thống thống nhất của việc bảo tồn và sử dụng đa dạng sinh học.

Đa dạng sinh học là sự tới hạn đối với cả giá trị bản chất của nó bởi vai trò chính mà nó đảm nhận trong việc chu cấp hệ sinh thái và các dịch vụ khác mà tất cả chúng ta sau cùng đều phải phụ thuộc vào. Có một xu hướng trong quá khứ để quản lý các thành phần của sự đa dạng sinh học bằng cách bảo vệ hoặc không bảo vệ. Cần có sự thay đổi để có các tình huống linh hoạt, nơi nào bảo tồn và nơi nào sử dụng xem xét trong phạm vi và lĩnh vực được đo lường đầy đủ được áp dụng trong một chuỗi liên tục từ sự bảo vệ nghiêm ngặt đến các hệ sinh thái nhân tạo.

2.11. Nguyên tắc 11: Tiếp cận hệ sinh thái phải xem xét tất cả các dạng thông tin tương ứng, bao gồm kiến thức, các đổi mới và các thực tiễn của khoa học của cư dân bản địa và cư dân địa phương.

Thông tin từ tất cả mọi nguồn đều quan trọng để đạt đến các chiến lược quản lý hệ sinh thái một cách hiệu quả. Một kiến thức tốt hơn về các chức năng của hệ sinh thái và các tác động của việc sử dụng của con người đều thực sự cần thiết. Tất cả các thông tin tương ứng từ bất kỳ lãnh vực nào có liên quan phải được chia xẻ với các thành viên tham gia và những người thực hiện. Các tính chất đằng sau các quyết định quản lý đề nghị ra phải được làm rõ ràng và được kiểm tra dựa trên các kiến thức và quan điểm có sẵn của các thành viên có liên quan.

2.12. Nguyên tắc 12: Tiếp cận hệ sinh thái phải liên quan đến tất cả các lãnh vực xã hội và các ngành khoa học có liên quan tương ứng.

Hầu hết các vấn đề về quản lý sự đa dạng sinh học đều phức tạp, với nhiều lực tương tác, tác động phụ và sự đan xen vào nhau, và vì thế phải liên quan đến các thành viên tham gia và các chuyên gia ở các cấp địa phương, quốc gia, khu vực và quốc tế, một cách tương ứng.

III. CÔNG TÁC QUẢN LÝ KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN RỪNG NGẬP MẶN CẦN GIỜ HIỆN NAY THOẢ MÃN 12 NGUYÊN TẮC CỦA PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI THEO CÔNG ƯỚC ĐA DẠNG SINH HỌC

Nguyên tắc 1: Các mục tiêu quản lý tài nguyên đất đai, nước và sự sống là sự lựa chọn mang tính xã hộI Khôi phục rừng ngập mặn Cần Giờ bị tàn phá bởi chất độc hoá học trong chiến tranh và bảo tồn để hệ sinh thái này phát triển bền vững là mục tiêu quản lý dựa trên sự lựa chọn của xã hội.
Nguyên tắc 2: Quản lý phải được phân quyền đến cấp thích hợp nhất Việc quản lý Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ được phân quyền đến cấp thích hợp nhất qua các nghị quyết giao khoán bảo vệ rừng đến các đơn vị quốc doanh, tập thể và hộ gia đình của Ủy ban nhân dân Tp. Hồ Chí Minh.
Nguyên tắc 3: Các nhà quản lý hệ sinh thái phải xem xét các hiệu quả (thực tế hoặc tiềm ẩn) của các hoạt động của họ đối với các hệ sinh thái khác. Trong công tác quản lý, Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ bao gồm 3 hệ sinh thái theo diễn thế: lúa nước – rừng ngập mặn – thảm cỏ biển. Mọi hoạt động bảo tồn và phát triển trong khu vực Khu dự trữ sinh quyển đều được các nhà quản lý tính đến mối quan hệ với hệ sinh thái ven biển cùng vùng biển Đông.
Nguyên tắc 4: Công nhận các lợi ích tiềm năng từ sự quản lý, thuờng có một nhu cầu để hiểu biết và quản lý hệ sinh thái trong phạm vi kinh tế. Bất cứ chương trình quản lý hệ sinh thái nào như thế phải: (a) Giảm bớt các bóp méo do thị trường có ảnh hưởng bất lợi đến sự đa dạng sinhhọc. (b) Nhắm đến các động cơ để đẩy mạnh việc bảo tồn đa dạng sinh học và sử dụng bền vững. (c) Chủ quan hoá các chi phí và các lợi ích trong hệ sinh thái đã quy định vào phạm vi khả thi. Các nhà quản lý ngành Lâm nghiệp TP. HCM đang có kế hoạch đánh giá Tổng giá trị kinh tế của hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần giờ nhằm mục đích biết rõ nộI dung kinh tế cùng giá trị của các loại sản phẩm và dịch vụ môi trường do hệ sinh thái này cung cấp. Từ đó sẽ cải tiến công tác quản lý theo xu hướng bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đa dạng sinh học của Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần giờ, phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững.
Nguyên tắc 5: Việc bảo tồn cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái, nhằm mục đích duy trì các dịch vụ của hệ sinh thái, phải là mục tiêu ưu tiên của phương thức tiếp cận hệ sinh thái. Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần giờ được phân thành 3 vùng chức năng: vùng lõi, vùng đệm và vùng chuyển tiếp theo kế hoạch quản lý. Sự phân vùng này nhằm bảo tồn cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ.
Nguyên tắc 6: Các hệ sinh thái phải được quản lý trong các giới hạn về chức năng của chúng. Hiện nay hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần giờ được quản lý trong phạm vi giới hạn của các chức năng. Ban quản lý Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần giờ kiểm soát được cường độ khai thác tài nguyên thiên nhiên từ khu vực này như gỗ củi, thuỷ sản, muối v.v…
Nguyên tắc 7: Việc tiếp cận hệ sinh thái phải được thực hiện ở các quy mô thích hợp về mặt không gian và thời gian. Trong 22 năm vừa qua, theo thời gian, quy mô quản lý và phương thức quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần giờ cũng đã chuyển đổi với phương thức quản lý ngày càng chặt chẽ hơn và quy mô ngày càng lớn hơn về mặt không gian: rừng kinh tế (1978 – 1993: 20.000 ha) – rừng phòng hộ (1993 – 1999: 38.000 ha) – Khu dự trữ sinh quyển (2000: 75.740 ha)
Nguyên tắc 8: Công nhận sự thay đổi các quy mô theo thờI gian và các kết quả diễn ra từ từ được đặc trưng bởi các quá trình sinh thái, các mục tiêu đối với việc quản lý hệ sinh thái phải được thiết lập mang tính dài hạn. Kết quả quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần giờ luôn luôn là kế hoạch dài hạn. Từ 1978 – 1983 trồng phủ xanh bằng cây đước (rhizophora apiculata), từ 1984 – 1999 trồng đa dạng loài để đạt đa dạng sinh học. Từ 2000 trở đi, quan sát động lực phát triển và mối quan hệ với các hệ sinh thái tiếp giáp, theo dõi độ tăng đa dạng sinh học.
Nguyên tắc 9: Việc quản lý công nhận sự thay đổi là điều không thể tránh khỏi Quản lý theo quy chế Khu dự trữ sinh quyển đồng nghĩa với vai trò con người là trung tâm, do đó sự thay đổi là điều không tránh khỏi khi cần phát triển. Ngoài ra, về mặt tự nhiên cũng có sự thay đổi về thời tiết, về lực tương tác sông biển và lực tương tác giữa các loài với nhau v.v..
Nguyên tắc 10: Tiếp cận hệ sinh thái phải tìm kiếm sự cân bằng thích hợp và sự hợp thành một hệ thống thống nhất của việc bảo tồn và sử dụng đa dạng sinh học. Trong công tác quản lý, mọi kế hoạch dài hạn của ngành lâm nghiệp TP. HCM luôn theo dõi sự cân bằng giữa việc bảo tồn và sử dụng đa dạng sinh học từ năm 1990 đến nay.
Nguyên tắc 11: Tiếp cận hệ sinh thái phải xem xét tất cả các dạng thông tin tương ứng, bao gồm kiến thức, các đổi mới và các thực tiễn của khoa học của cư dân bản địa và cư dân địa phương. Trong các dự án trung và dài hạn, các nhà quản lý liên quan đến hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần giờ luôn cập nhật thông tin từ mọi nguồn: thống kê, hội thảo trao đổi lấy ý kiến dân cư địa phương và các nhà khoa học để xây dựng và điều chỉnh các chính sách quản lý ngày càng hiệu quả hơn.
Nguyên tắc 12: Tiếp cận hệ sinh thái liên quan đến tất cả các lãnh vực xã hội và các ngành khoa học có liên quan tương ứng. Để quản lý tốt hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần giờ. Cán bộ thuộc Ban quản lý Khu dự trữ sinh quyển được đào tạo từ nhiều ngành nghề khác nhau: lâm nghiệp, thuỷ sản, nông nghiệp, kinh tế, tài chính, môi trường… và trong mối quan hệ với các đơn vị bên ngoài, Ban quản lý Khu dự trữ sinh quyển có các dự án liên quan đến các tổ chức: sư phạm, giáo dục, đoàn thể phụ nữ – thanh niên – công đoàn, các tổ chức xã hội phi chính phủ, các cơ quan nghiên cứu cả khoa học tự nhiên và xã hội … v.v…

THE MANAGEMENT OF THE SALT – MARCH ECOSYSTEM IN CAN GIO, FOLLOWING 12 MANAGEMENT PRINCIPLES IN ACCORDANCE WITH THE APPROACHES MENTIONED IN THE CONVENTION ON BIOLOGICAL DIVERSITY

LE DUC TUAN

During the war, salt – marsh Can Gio forests was almost completely destroyed by a million gallons of chemical poisons, including more than 600,000 gallons of orange poissons. After 22 years since 1978, this area has been restored by long – term plans, short – term and medium – term projects and become a spectacular green scenery, marking a breakthrough of this city dwellers in overcoming the consequences of the war.

This report aims at analyzing the management of the salt – march ecosytem in Can Gio, following 12 management principles in accordance with the approaches mentioned in the Convention on Biological Diversity started by the United Nations since 1998. Our salt – marsh ecosystem is managed according to these 12 principles so was recognized by MAB/ UNESCO the biosphere preservation area in January 21, 2000.

To put into pratice the approaches to the ecosystem is a long term process. The 12 principles are actually still in discussion for perfection today.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Solving the puzzle: The Ecosystem Approach and Biosphere Reserves. UNESCO 2000.
  2. Báo cáo tổng kết 20 năm khôi phục và phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ. Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn 1998.
  3. Các báo cáo tổng kết của lâm trường Duyên Hải nay là BQL rừng phòng hộ môi trường TP. HCM từ 1978 – 1999.
  4. Tuyển tập Báo cáo hội thảo khoa học: Phục hồi và quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam. Tổ chức tại Đồ Sơn – Hải Phòng từ ngày 08 – 10/ 10/ 1995.
  5. Tuyển tập Báo cáo hội thảo khoa học: Tình hình kinh tế xã hội của phụ nữ vùng rừng ngập mặn ven biển hướng cải thiện đời sống và môi trường. Tổ chức tại Hà Nội từ ngày 01 – 04/ 11/ 1997.
  6. Tuyển tập Báo cáo hội thảo khoa học: Sử dụng bền vững và có hiệu quả kinh tế các tài nguyên trong hệ sinh thái rừng ngập mặn. Tổ chức tại Nha Trang từ ngày 01 – 03/ 11/ 1998.
  7. Tuyển tập Báo cáo hội thảo khoa học: Quản lý và kế hoạch hoá bảo tồn nguồn lợi đa dạng sinh học vùng ven biển. Tổ chức tại thành phố Hạ Long từ ngày 23 – 25/ 11/ 1999.
  8. Tuyển tập Báo cáo hội thảo khoa học: Quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên và môi trường đất ngập nước cửa sông ven biển. Tổ chức tại Hà Nội từ ngày 01 – 03/ 11/ 1999.
  9. Proceedings of the Ecotone V: Community Participation in Conservation, Sustainable Use and Rehabilitation of Mangroves In Southeast Asia. 08 – 12 January 1996. Ho Chi Minh City, Vietnam.

Single Post Navigation

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: